Pages

Tuesday, February 2, 2010

Trung Quốc cảnh báo tổng thống Mỹ không nên tiếp đức Đạt Lai Lạt Ma

Đức Tâm,RFI

Bài đăng ngày 02/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày 02/02/2010 16:34 TU

Hôm nay, 02/02/2010, trong một cuộc họp báo tại Bắc Kinh, ông Chu Duy Quần, phó trưởng ban Thường trực Ban Công tác Mặt trận thống nhất trung ương đảng cộng sản Trung Quốc, đã tuyên bố là Bắc Kinh cực lực chống lại cuộc gặp giữa tổng thống Mỹ Barack Obama và đức Đạt Lai Lạt Ma.

Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ tới Mỹ kể từ ngày 16 tháng 2.

Đại diện chính quyền Bắc Kinh đe dọa, nếu cuộc gặp diễn ra thì điều này sẽ làm phương hại nghiêm trọng quan hệ Trung-Mỹ, ảnh hưởng đến lòng tin và hợp tác song giữa hai nước.

Từ Bắc Kinh, thông tín viên Marc Lebeaupin tường trình.

" Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chẳng còn biết dùng từ gì nữa để diễn đạt sự phẫn nộ của họ. Hồi tuần rồi, việc Mỹ khẳng định bán vũ khí cho Đài Loan đã làm chính quyền Bắc Kinh cảm thấy « bị tổn thương nặng nề ». Báo chí chính thức tại Trung Quốc cũng đã đồng loạt sử dụng những từ ngữ diễn đạt như trên.

Hôm nay, nhân một cuộc họp báo về cuộc gặp giữa các đại diện Tây Tạng và Trung Quốc, sự căng thẳng lại càng tăng cao. Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo tổng thống Mỹ về cuộc gặp gỡ với nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng.

Bắc Kinh có vẻ quyết tâm ngăn cản cuộc tiếp xúc này. Một viên chức Trung Quốc giải thích, một cuộc gặp như thế sẽ chỉ làm tổn hại nghiêm trọng đến nền tảng chính trị trong quan hệ Trung – Mỹ.

Dù vậy, đức Đạt Lai Lạt Ma đang được chờ đón trong hai tuần nữa tại Washington và khó thể tưởng tượng được rằng ông Barack Obama, người vừa đoạt giải Nobel hòa bình, lại có thể đóng sập cánh cửa trước một giải Nobel hòa bình khác. Nhưng đối với Bắc Kinh, dù đó là vấn đề Đài Loan hay Tây Tạng đi nữa, thì đó luôn luôn là một cái cớ do Washington đưa ra nhằm can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Quốc mà thôi".

VN tham gia tập trận hải quân Ấn Độ

Việt Nam sẽ cử đại diện tham gia cuộc diễn tập hải quân quy mô lớn tại Ấn Độ, cùng 11 quốc gia châu Á-Thái Bình Dương khác.

Cuộc diễn tập có tên Milan-2010 kéo dài bốn ngày từ 04/02/2010, với các bài tập chống khủng bố tại các khu vực duyên hải và hải đảo.

Phó Tổng tham mưu trưởng Hải quân Ấn Độ, Đô đốc Sudharshan Shrikhande, được hãng thông tấn PTI của Ấn trích lời nói trong khuôn khổ cuộc diễn tập sẽ có thảo luận giữa các bên tham gia về đối phó các cuộc tấn công khủng bố.

Đây là cuộc tập trận Milan lần thứ bảy do hải quân Ấn Độ tổ chức định kỳ hai năm một lần từ 1995 tới nay.

Tám quốc gia điều tàu chiến tham gia, còn bốn quốc gia khác, trong có Việt Nam, chỉ cử đại diện quan sát và tham gia bài tập.

Trong các chủ đề hội thảo còn có việc đối phó tàu nước ngoài xâm phạm hải phận các nước. Ấn Độ, cũng như Việt Nam, đều đã gặp tình trạng này, nhất là tại các khu vực chồng lấn.

Các nước gửi tàu chiến tới tập trận là Australia, Bangladesh, Indonesia, Malaysia, Miến Điện, Singapore, Sri Lanka và Thái Lan. Hải quân Brunei, Philippines, Việt Nam và New Zealand chỉ tham gia diễn tập.

Đại diện 12 nước cũng có hội thảo về vai trò của hải quân trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai.

Nước chủ nhà Ấn Độ điều bốn hoặc năm tàu chiến tham gia tập trận, trong có các tàu lớn và tối tân nhất.

Australia điều tàu tuần tra HMAS Glenenelg tham gia, cho dù sẽ không có bắn đạn thật.

An ninh biển châu Á

Các cuộc diễn tập Milan được cho như nỗ lực tăng cường hợp tác hải quân của các nước châu Á-Thái Bình Dương nhằm duy trì an ninh tại các vùng biển nơi đây.

Việt Nam và Ấn Độ gần đây cũng đang thúc đẩy quan hệ hải quân. Lần gần nhất tàu chiến Ấn Độ cập cảng Việt Nam là hồi tháng 4/2009 với hai khu trục hạm INS Mumbai và INS Ranveer vào cảng Hải Phòng.

Ấn Độ cũng giúp Việt Nam một cách tích cực trong việc huấn luyện hải quân.

Trong khi đó, một cuộc diễn tập hải quân khổng lồ khác mang tên Rắn hổ mang Vàng (Cobra Gold) đã bắt đầu tại Thái Lan.

Cuộc tập trận huấn luyện ba tuần này có sự tham gia của hải quân Hoàng gia Thái Lan, Hoa Kỳ, Singapore, Nhật Bản, Indonesia và Hàn Quốc.

Nam Hàn tham gia lần đầu tiên.

Khoảng 11.500 lính thủy, trong có 6.000 hải quân Mỹ, tham gia cuộc diễn tập được cho là lớn nhất thế giới này.

Tổ chức hàng năm trong suốt 29 năm nay, các cuộc diễn tập Hổ mang Vàng được Mỹ ca ngợi là giúp "ổn định an ninh và hòa bình" tại châu Á.

Việt Nam từng cử quan sát viên tới tham dự

Hà Nội chặt đầu Phật

Scott Johnson - Nhà Quê lược dịch


Cuộc chiến bí mật của CSVN nhắm vào Phật tử hải ngoại


Hàng trăm sư sãi được huấn luyện nhằm đột nhập vào các ngôi chùa tại hải ngoai với mục đích triệt phá Giáo hội Phật giáo Thống nhất (GHPGTN).

Chính quyền Việt Nam đã tiến hành các cuộc bố ráp công khai và bí mật chống lại giới Phật tử trong nhiều chục năm qua. Năm 1981, CSVN chính thức cấm giáo GHPGTN – một tôn giáo có lịch sử tồn tại lâu nhất tại Việt Nam .

CSVN đã tấn công vào một giáo hội với 2000 năm tồn tại và thay vào đó một giáo hội Phật giáo do chính phủ kiểm soát.

Những người từ chối trung thành với tổ chức Phật giáo của nhà nước bị bỏ tù, tra tấn, thậm chí bị giết hại.

Lãnh đạo tinh thần hiện nay của GHPGTN, người từng được đề cử giải Nobel Hòa bình, Thượng tọa Thích Quảng Độ, đã và đang bị giam lỏng tại nhà trong suốt 26 năm qua.

Cuộc đấu tranh của HT Quảng Độ bắt đầu khi còn là một tu sinh trẻ khi được chứng kiến thầy của mình bị người cộng sản hành quyết.

Được xem như là những người đối kháng với ý thức hệ cộng sản, HT Thích Quảng Độ và các Phật tử của Hoà thượng trở thành mục tiêu đàn áp của Cộng sản Việt Nam trong nước – và bây giờ tại hải ngoại.

Chỉ vài ngày sau khi các tăng sĩ trụ trì tại một ngôi chùa ở miền Tây nước Úc lên án chính sách đàn áp tôn giáo của cộng sản Hà Nội, nhiều bức tượng Phật tại ngôi chùa này đã bị chém đầu. Sự việc xảy ra vào tháng 10 và tháng 11 năm 2009..

Sự xúc phạm xảy ra sau khi vị sư trụ trì của ngôi chùa – đồng thời là đại diện của GHPGTN tại Úc – tham dự một cuộc họp tại Los Angeles, tại phiên họp này các vị lãnh đạo của GHPGTN bày tỏ quyết tâm chống tại kế hoạch đánh phá của cộng sản Hà Nội.

Hành động xúc phạm đến tượng Phật lần thứ hai xảy ra sau khi tăng sĩ lãnh đạo bảo trợ một phái đoàn của GHPGTN tại hải ngoại gặp gỡ với chính phủ Úc tại Quốc hội ở Canberra . Cuộc họp được tổ chức nhằm thông báo với chính phủ Úc về chính sách đàn áp tôn giáo của cộng sản Hà Nội, chuẩn bị cho cuộc đối thoại về nhân quyền giữa hai chính phủ Úc-Việt được tổ chức vào tháng 12.

Việc chém đầu các tượng Phật được xem như là một lời cảnh cáo đối với giới Phật tử tại Úc. Về phía nhà cầm quyền Hà Nội, các hệ quả từ việc lên án các vi phạm nhân quyền của các Phật tử mang tính địa chính trị, bởi lẽ chế độ độc tài Hà Nội đang phải chịu nhiều áp lực ngày càng gia tăng từ cộng đồng thế giới về việc chấm dứt đàn áp tôn giáo.

Tại Hoa Kỳ, vào năm 2004 lần đầu tiên bộ Ngoại giao đưa Việt Nam vào danh sáchcác “quốc gia cần quan tâm đặc biệt”, danh sách chính thức bao gồm các quốc gia có các vi phạm nghiêm trọng về đàn áp tôn giáo. Bị liệt vào danh sách này thường kèm theo các trừng phạt về kinh tế, vì thế chính quyền Hà Nội quyết tâm dập tắt các tiếng nói chỉ trích.

Tuy nhiên Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội đi đến một một thỏa thuận về cải tổ vào năm 2006, theo đó Việt Nam sẽ được rút ra khỏi danh sách quốc gia cần quan tâm đặc biệt.

Việt Nam sau đó được rút khỏi danh sách quốc gia cần quan tâm đặc biệt, tuy nhiên, các hứa hẹn cải tổ đã không bao giờ được thực thi.

Thực ra, Việt Nam đã gia tăng các cuộc đàn áp, động thái này đã bị Tổ chức Quốc tế Nhân quyền cáo buộc là một trong những “cuộc đàn áp tồi tệ nhất nhắm vào các người đối kháng ôn hòa trong 20 năm qua.”

Kể từ thời điểm đó, các lời kêu gọi đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt, điển hình từ Ủy ban về Tự do Quốc tế của Hoa Kỳ, đã không gây được sự chú ý.

Hiện nay, chính quyền Hà Nội đã và đang chuyển đổi các lực lượng an ninh bằng cách áp dụng các phương pháp bí mật trong việc đàn áp tôn giáo.

Các phương thức bí mật này bao gồm việc mở rộng cái gọi là chùa “hợp pháp” đồng thời đàn áp các chùa “bất hợp pháp” vốn từ chối tuân phục sự kiểm soát của đảng cộng sản. Các tôn giáo và giáo phái tại Việt Nam – Phật tử, tín đồ Tin lành dân tộc ít người, Thiên chúa giáo, Hòa hảo, Cao đài, và các người đối kháng, hoạt động dân chủ, nhà báo, và bloggers – tất cả đều phải đối phó với các phương cách đàn áp như nhau.

Chủ ý của Hà Nội là dùng chính sách “chia để trị” kể cả việc len lỏi vào các tổ chức đối kháng tại hải ngoại.


Các chỉ thị bí mật của Hà Nội

Điều khó có thể tin là các bằng chứng về chính sách đàn áp của Hà Nội được ghi rõ trong các chính sách ghi trên văn bản. Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có trụ sở tại Paris đã tìm được các sắc lệnh, chỉ thị bí mật phác họa chủ ý của Hà Nội trong việc tấn công những người đối kháng tại hải ngoại.

Phát ngôn viên thuộc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, ông Võ Văn Ái đã điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về tính xác thực của sắc lệnh trên. Phát biểu trước Ủy ban Đối ngoại của Hạ viện vào ngày 20 tháng 6 năm 2005, ông Ái trích dẫn các sắc lệnh của Hà Nội ra lệnh cho các lực lượng an ninh của Việt Nam “xóa bỏ tận gốc rể Phật giáo Ấn quang.”

Hà Nội thường gọi GHPGTN là Giáo hội Phật giáo Ấn quang và các văn bản bí mật do Học viện Khoa học Công an có trụ sở tại Hà Nội soạn thảo được gọi là “Các tôn giáo và cuộc đấu tranh chống lại các hoạt động lợi dụng tôn giáo – tài liệu dành cho học tập và lưu hành nội bộ trong các lực lượng an ninh nhân dân.”

Penelope Faulkner (Ỷ Lan) Phó Giám Đốc tạp chí Quê Mẹ, Phòng thông tin Phật Giáo Quốc tế ( Paris )
Nguồn: DCVONline tổng hợp


Penelope Faulkner, một người hoạt động thâm niên với Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, tường thuật rằng sắc lệnh bí mật chỉ thị các đảng viên và nhân viên an ninh từ trung ương đến cấp cơ sở “chống đối, đàn áp, cô lập, và chia rẽ” giới lãnh đạo của Phật giáo Thống nhất. Bà Faulkner xác quyết rằng, “các sắc lệnh này chỉ thị việc huấn luyện các nhân viên đặc biệt nhằm len lỏi vào GHPGTN, không những chỉ thu thập tin tức tình báo và tường trình các hoạt động của GHPGTN, mà còn nhằm gây chia rẽ và bất đồng trong hàng ngũ các cấp, để làm suy yếu GHPGTN ngay từ bên trong.”

Theo bà Faulkner, các “nhân viên đặc biệt” này đã và đang mở rộng các hoạt động đánh phá ra hải ngoại - Úc châu được lựa chọn làm nơi thử nghiệm trong chiến lược này.


Úc châu – Thử nghiệm mẫu

Bà Faulkner nhấn mạnh rằng Hà Nội đã và đang các tổ chức “măt trận” nhằm làm suy yếu các tổ chức tôn giáo tại hải ngoại và những người vận động dân chủ, đồng thời đã gởi hàng trăm nhà tu “quốc doanh” đến Úc và Hoa Kỳ.

Một tổ chức quốc doanh hiện đang tấn công GHPGTN được thành lập tại một hội nghị ở Sydney , Úc vào ngày 1 tháng 1 năm 2009. “Mặt trận” này tên là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Liên lục địa.”

Bà Faulkner nói rằng âm mưu của các tổ chức bình phong (mặt trận) này “không nhằm cổ vũ chủ nghĩa cộng sản một cách lộ liễu, nhưng nhắn gởi với các Phật tử rằng họ không nên dính líu đến chính trị ‒ mà chỉ nên tụng niệm và gởi tiền về Việt Nam, và không can dự vào phong trào đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền.”

Bà Faulkner tin rằng Hà Nội đang tiến hành các hoạt động hù dọa Phật tử hại ngoại và bà Faulkner trích dẫn từ sắc lệnh bí mật chỉ thị cho giới thẩm quyền Việt Nam “có động thái phủ đầu để ngăn chặn các chính phủ Tây phương tiến hành các điều tra về nhân quyền” tại Việt Nam.

Sắc lệnh chỉ rõ rằng, “Đề nghị Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp các hoạt động giữa các bộ Thông tin và Tuyên truyền, bộ Nội vụ, bộ Ngoại giao, ban Tôn giáo trung ương và các ‘Việt kiều hải ngoại’ cùng làm việc nhằm thực hiện chính sách này.”

Một thành viên của “Phật giáo Liên lục địa”, một tu sĩ tại Sydney, bị bắt gặp nói chuyện với cả chục sĩ quan an ninh cấp cao CSVN vào ngày 26 tháng 11 năm 2009 tại Quốc hội Úc ở Canberra. Cùng ngày, phái đoàn của GHPGTN hải ngoại có cuộc gặp gỡ với chính phủ Úc.

Vài ngày sau đó, ngôi chùa thuộc GHPGTN tại miền Tây Úc bị xúc phạm.

Bà Faulkner, một thành viên trong phái đoàn của GHPGTN, nhìn nhận rằng các sĩ quan an ninh CSVN có lẽ chỉ tham dự cuộc họp tại Quốc hội Úc với mục đích ngoại giao nào đó, và bà cũNg không nghi ngờ gì việc các sĩ quan này đã báo cáo với cấp trên của họ ở Hà Nội về việc nhìn thấy phái đoàn GHPGTN tại Quốc hội Úc.

Bà Faulkner cũng khẳng định rằng việc xúc phạm ngôi chùa tại Tây Úc không phải là một ngẫu nhiên.

TT Phước Nhơn ôm đầu tượng phật bị xúc phạm tại sân chùa ở Marangaroo, Tây Úc (January 2009)
Nguồn: Scott Johnson


Vào tháng 1 năm 2010 người viết đã đến thăm ngôi chùa này tại Perth, Tây Úc, và có cuộc nói chuyện với vị sư trụ trì, Thượng tọa Thích Phước Nhơn. TT Phước Nhơn ôm trên tay thủ cấp của một trong hai pho tượng Phật bị chém đầu và nói rằng Hà Nội đã từ lâu muốn loại bỏ GHPGTN.

TT Phước Nhơn cũng nói rằng Thượng toạ có nhận một bức thư nặc danh bằng vàng mã vào năm 2009. Đồ mã là một loại giấy dùng cho ma chay theo phong tục cổ xưa, vị sư trụ trì nói rằng chỉ có một lời giải thích duy nhất về lá thư này, “đe dọa ám sát.”

Các Phật tử thuộc ngôi chùa của TT Phước Nhơn đã nhận nhiều cuộc điện thoại đe dọa, cũng theo lời của Thượng tọa.

TT Phước Nhơn bảo rằng, “các bức tượng sẽ được tu sửa.”


© DCVOnline

Bạo động nổ ra ở nhiều nơi tại Bắc Triều Tiên do người dân bị đói sau chính sách đổi tiền

Trọng Nghĩa

Bài đăng ngày 02/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày 02/02/2010 15:44 TU

Tiền won Bắc Triều Tiên
(Ảnh : Reuters)

Theo hãng tin Pháp AFP, nhật báo trên mạng Daily NK ở Hàn Quốc hôm nay (02/02/2010) tiết lộ rằng nhiều người dân Bắc Triều Tiên phẫn nộ đã vùng lên tấn công vào lực lượng an ninh. Họ tức giận vì bị lâm vào hoàn cảnh thiếu đói sau khi chính quyền Bình Nhưỡng quyết định đổi tiền hồi tháng 11/2009 và tìm cách dẹp bỏ thị trường tự do đang manh nha.


Một nguồn tin từ tỉnh Bắc Hamkyung ở Bắc Triều Tiên đã xác định với nhật báo Hàn Quốc là các chủ trương kể trên đã làm cho tình trạng thiếu thốn lương thực và nhu yếu phẩm thêm nặng nề. Nhiều người buôn bán và cư dân đã bị trắng tay sau vụ đổi tiền. Nỗi tuyệt vọng đã thúc đẩy họ nổi dậy tấn công vào nhân viên an ninh vì nghĩ rằng ''đằng nào cũng chết''.
Nhật báo Daily NK nêu lên một thí dụ điền hình về tình trạng bạo động gia tăng ở Bắc Triều Tiên. Ngày hôm qua (01/02), một nhóm người đã tấn công vào một toán công an đang đi tuần tại các khu chợ ở thành phố Pyongsung, thuộc tình Nam Pyongan. Tuy nhiên tờ báo không cho biết rõ về số thương vong trong vụ này.
Trích dẫn một số người từ Bắc Triều Tiên đào thoát được qua Hàn Quốc, tờ báo cho biết thêm là một vụ xung đột khác cũng vừa mới xẩy ra tại thành phố Hyesan ở tỉnh Yanggang, khi cư dân địa phương kháng cự lại lực lượng công an đến đàn áp họ. Một người bực tức đã tước súng của một nhân viên an ninh và bắn loạn xạ, làm cho một công an bị thương nặng.
Xin nhắc lại là ngày 30/11/2009, Bình Nhưỡng đã ban hành chính sách đổi tiền, với 100 đồng won cũ đổi được một won mới. Tuy nhiên, vì chính quyền hạn chế lượng tiền tối đa đổi được, nhiều người dân đã mất trắng số tiền dành dụm được. Các nguồn tin báo chí Hàn Quốc trong thời gian qua liên tiếp ghi nhận tình trạng hỗn loạn tại Bắc Triều Tiên sau vụ đổi tiến, đăc biệt trong tình cảnh dân chúng nước này vẫn chịu ảnh hưởng của nạn đói.
Nhật báo Joong Ang Daily hôm nay đã xác nhận phần nào các thông tin kể trên. Tờ báo trích lời ông Won Sei Hoon, giám đốc cơ quan tình báo Hàn Quốc xác nhận là vụ đổi tiền đã gây ra bạo động tại Bắc Triều Tiên. Phát biểu trong một phiên họp kín với các nghị sĩ Hàn Quốc, ông Won còn cho biết thêm là có dấu hiệu cho thấy là chính quyền Bình Nhưỡng đã làm chủ được tình hinh.

Monday, February 1, 2010

Lãnh đạo tàn ác Bắc Triều Tiên Kim Jong Il bị kiện về tội ác chống nhân loại

Lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Il.

Theo AsiaNews, một số cựu tù nhân cải tạo Bắc Triều Tiên nộp đơn kiện lãnh đạo Kim Jong Il tội diệt chủng và tội ác chống nhân loại. Hồ sơ đã được chuyển đến Tòa án Quốc tế La Haye, Hà Lan. Trong đơn, họ tố cáo các hành vi « bạo ngược » của chế độ. Tù nhân không biết phạm tội gì, không biết ở tù bao lâu. Những người vượt ngục bị xử bắn.

Với sự trợ giúp của Liên minh Công dân vì Nhân quyền cho tù nhân và người tỵ nạn Bắc Triều Tiên, một tổ chức phi chính phủ tại Seoul, ba cựu tù nhân lao cải đào thoát từ miền Bắc đã nộp đơn kiện lãnh đạo Kim Jong Il về tội diệt chủng và tội ác chống nhân loại.

Hồ sơ tố cáo chế độ cộng sản Bình Nhưỡng đã được nộp tại Tòa án quốc tế La Haye, Hà Lan, hồi tháng 12 vừa qua.

Các trại tù tại Bắc Triều Tiên được đặt tên là trại cải tạo lao động nằm trong những vùng đồi núi hiểm trở. Tù nhân bị đối xử rất khắc nghiệt như những « quần đảo ngục tù, Gulag, của Liên Xô cũ.

Một trong ba người đứng đơn kiện có bà Kim Young-Soon, vượt thoát sang Hàn Quốc năm 2003, sau 9 năm bị giam giữ trong trại tù Yodeok mà tên gọi chính thức là « trại cải tạo số 5 ». Bà nói, "cái tội" của bà là "người quen của bà Song Hye-Lim", vợ thứ hai của lãnh đạo Kim Jong-Il. Để bảo vệ bí mật lãnh đạo có hai vợ, chính quyền bắt nhốt người bạn gái để bịt miệng. Đa số tù nhân trong trại Yodeok, nơi giam giữ khoảng 30 000 người mà họ không rõ tại sao mình ở tù và chừng nào ra.

Người may mắn được thả phải ký giấy cam kết giữ im lặng tuyệt đối không được tiết lộ. Nếu bất tuân thì sẽ bị bắt lại ngay. Còn người dân nào đề cập đến sự hiện hữu của các trại cải tạo thì sẽ bị kết án là "phản động" và đi tù.

Trong khi đó ở biển Hoàng Hải, Bình Nhưỡng vừa ra thêm lệnh mới cấm giao thông trên 5 khu vực.

Hãng thông tấn Yonhap của Hàn Quốc cho biết, lệnh cấm của Bắc Triều Tiên có hiệu lực từ 7 giờ chiều hôm nay đến 8 giờ sáng thứ ba ngày mai.

Tuần trước, Bình Nhưỡng tuyên bố cấm tàu thuyền tại 2 vùng biển gần nơi hai bên tranh chấp lãnh hải và sẽ có hiệu lực trong vòng hai tháng.

Nhân sự Đại hội 11

Người Yêu Nước

Chỉ còn 1 năm nữa là đến Đại hội 11 của Đảng ta. Dự kiến Đại hội 11 sẽ diễn ra vào tháng 1 năm 2011. Ai sẽ làm Tổng bí thư, Chủ tịch nước, và Thủ tướng là mối quan tâm của nhiều người.

Vào hồi năm 2006, Đại hội 10, có một đặc điểm nổi bật trong Đảng ta, chưa từng có từ trước tới nay, đó là “xu hướng Bắc tiến”, như cách nói đùa của nhiều người. Đại hội 10 đánh dấu sự chiếm đa số trong Bộ chính trị là người miền Nam, và người miền Nam đều nắm giữc các nhiệm vụ chủ chốt cả. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng người Cà Mau, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết người Bình Dương, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang người Long An, Bộ trưởng Công An Lê Hồng Anh người Kiên Giang, Phó thủ tướng phụ trách nội chính Trương Vĩnh Trọng người Bến Tre. Và tất cả các vị lãnh đạo này đều là cộng sản “nằm vùng”, ở lại miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh, chứ không phải cộng sản “tập kết ra Bắc”.

Trong Đảng ta từ lâu đã có sự phân chia quyền lực theo một nguyên tắc bất thành văn, đó là Tổng bí thư có quyền lực to nhất phải là người miền Bắc, Thủ tướng có quyền về làm kinh tế là người miền Nam, và Chủ tịch nước ít quyền lực nhất là người miền Trung. Tại Đại hội 10, nguyên tắc phân chia 3 miền đó bị phá vỡ, người miền Nam nắm cả 2 chức vụ Thủ tướng và Chủ tịch nước. Thường trực Ban bí thư có quyền lực đứng thứ hai trong Đảng cũng thuộc về người miền Nam, là ông Trương Tấn Sang. Khi đó có giải thích là nguyên tắc 3 miền không còn quan trọng nữa, miễn là người có tài thì được bổ nhiệm. Đó chỉ là cách giải thích bao biện, “gọt chân cho vừa giày”. Dự kiến đưa ông Nguyễn Minh Triết ra làm Thủ tướng sau ông Phan Văn Khải đã bị đảo lộn, vì chuyện ông Trương Tấn Sang khi còn làm Bí thư Sài Gòn không chịu ra Hà Nội, không chịu nhường chức Bí thư Sài Gòn cho ông Triết, như nhiều người đã biết. Đến Đại hội 10, ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm Phó thủ tướng thường trực gần 10 năm, lại trẻ, sinh năm 1949. Còn ông Triết già hơn, sinh năm 1942, và cũng đang chỉ làm Bí thư Sài Gòn. Nếu đưa ông Triết làm Thủ tướng, thì biết giải thích với dư luận về ông Phó thủ tướng trẻ măng Nguyên Tấn Dũng như thế nào? Không lẽ công tác chuẩn bị cán bộ của Đảng ta bị nhầm à? Cãi nhau đến giờ chót, cuối cùng Đại hội 10 đành phải để ông Dũng làm Thủ tướng, mặc dù người ta biết ông Dũng không có tài năng gì cả. Vậy ông Triết làm gì? Làm Tổng bí thư thì rõ ràng ông Triết không thể đọ với cánh miền Bắc. Loay hoay mãi, cuối cùng Đại hội 10 đành phá vỡ nguyên tắc cân bằng 3 miền, để ông Triết làm Chủ tịch nước, chiếm mất vị trí của người miền Trung. Tại Đại hội 10, người miền Trung chỉ còn ông Nguyễn Văn Chi, làm chức Trưởng ban Kiểm tra Trung ương. Thật ra tại Đại hội 10 đã từng có dự kiến đưa ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Đà Nẵng hiện nay, ra Trung ương làm chức vụ to hơn, ví dụ Phó thủ tướng, để lên Chủ tịch nước. Nhưng rồi không thành. Đến bây giờ, ông Nguyễn Bá Thanh vẫn là một ứng cử viên nặng ký cho các chức vụ quan trọng hơn tại Đại hội 11.

Với Đại hội 11, nguyên tắc cân bằng 3 miền có được phục hồi không? Gần đây người ta thấy ông Trương Tấn Sang đã từ vị trí số 6 trong Bộ chính trị, nhảy lên vị trí số 2. Còn ông Nguyễn Văn Chi, Trưởng ban kiểm tra Trung ương, từ vị trí số 12 đã nhảy lên vị trí số 3. Có thể dự đoán được là đang có một số dự kiến ông Trương Tấn Sang sẽ làm Tổng bí thư thay ông Nông Đức Mạnh vào Đại hội 11, và ông Nguyễn Văn Chi quê miền Trung , sinh năm 1945, sẽ làm Chủ tịch nước. Thế nhưng trong Đảng ta hiện nay cũng đang có sự thảo luận mạnh mẽ về việc sáp nhập 2 chức vụ Tổng bí thư và Chủ tịch nước vào làm một, Tổng bí thư sẽ kiêm Chủ tịch nước, để bảo đảm sự tập trung quyền lực. Khi đó, Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước sẽ có vai trò như một Tổng thống. Đây là một xu hướng tiến bộ, và Đảng ta đang có sự chuẩn bị tích cực cho việc sáp nhập này. Hiện nay trong cả nước đang tiến hành làm thí điểm ở trên 10 tỉnh, bao gồm khoảng 500 xã, việc Bí thư kiêm Chủ tịch ở cấp tỉnh, huyện, và xã. Việc sáp nhập này đã được Đảng ta thảo luận từ hồi ông Lê Khả Phiêu làm Tổng bí thư năm 1997-2001, nhưng sau đó lại dừng lại, vì thấy phức tạp. Đến nay, ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh rất mạnh dạn khuyến khích xu hướng này, cho thảo luận rộng rãi, và cho làm thí điểm. Và rất may mắn là chủ trương sáp nhập này đều được các ông Sang, Triết, Dũng... ủng hộ.

Nếu như việc sáp nhập chức Tổng bí thư và Chủ tịch nước được Đại hội 11 quyết định, thì người miền Trung sẽ làm gì? Ông Nguyễn Văn Chi sẽ làm gì? Rất có thể ông Chi sẽ làm Thường trực Ban bí thư, chức vụ của ông Sang hiện nay, hoặc làm Chủ tịch Quốc hội, nếu như Đảng lại cho xóa bỏ chức Thường trực ban bí thư, như Đại hội 9 đã từng bỏ. Như vậy, dù đã sáp nhập chức vụ Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, thì vẫn bảo đảm nguyên tắc 3 miền được.

Nhưng cũng có thể việc đưa ông Chi lên vị trí số 3 trong Bộ chính trị hiện nay chỉ là một cách để xoa dịu sự bực bội của người miền Trung, trước Đại hội 11. Và đến Đại hội 11, ông Nguyễn Bá Thanh mới thực sự là nhân vật quan trọng đại diện cho miền Trung. Gần đây đã bắt đầu có nhiều ý kiến phê phán ông Trưởng ban Kiểm tra Nguyễn Văn Chi, là ông Chi đã cho xử lý kỷ luật quá nhiều cán bộ, gây oán thán trong Đảng. Bởi vậy vai trò của ông Chi trong Đại hội 11 cũng chưa chắc chắn lắm. Nhưng nếu so sánh ông Chi, với ông Thanh, thì rõ ràng ông Nguyễn Bá Thanh hơn, vì ông Thanh trẻ hơn, lại đang làm được nhiều việc cho Đà nẵng hơn, mạnh dạn đổi mới hơn. Thời ông Chi làm Bí thư Đà Nẵng, không thấy ông làm được gì.

Vấn đề lớn nhất là liệu ông Trương Tấn Sang có thể làm chức Tổng bí thư được không? Cách đây vài tháng, khi ông Sang tìm mọi cách lên được vị trí số 2 trong Bộ chính trị, để làm bước đệm cho Đại hội 11, thì đã có nhiều lời đồn thổi ông Sang sẽ làm Tổng bí thư thay ông Mạnh. Nhưng đến nay, sau vài tháng, tình hình có vẻ có nhiều thay đổi. Chức Tổng bí thư có một lần duy nhất do người Quảng Trị nắm giữ, là ông Lê Duẩn, do cụ Hồ đưa ông Duẩn lên, nhằm bảo đảm sự đoàn kết Bắc, Trung , Nam trong cuộc chiến tranh lâu dài. Nhưng sau đó, chưa bao giờ người miền Nam, hay miền Trung nắm được chức vụ này. Cũng giống như chức vụ Bộ trưởng Bộ quốc phòng, chưa bao giờ người miền Nam, cũng như miền Trung được nắm giữ. Trong không khí hừng hực “Bắc tiến” từ hồi Đại hội Đảng 10 năm 2006, ông Sang và phe cánh của ông có lẽ cũng nghĩ rằng việc giành chức Tổng bí thư không khó lắm. Nhưng tình hình đang có nhiều sự thay đổi, các cán cân lực lượng đang ngày càng lộ rõ. Nhất là cánh quân đội, không muốn ông Sang làm Tổng bí thư, tức chức vụ sẽ kiêm Bí thư quân ủy Trung ương. Không thể đùa với bên quân đội được. Có thể ông Sang đã dần dần hiểu được thế cờ. Ông Sang đang có bước lùi khôn khéo. Ông Sang chưa bỏ hẳn ý định làm Tổng bí thư, nhưng ông cũng đang nhòm ngó sang chức vụ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nếu ông Sang làm Thủ tướng thay ông Dũng, thì không có nhiều cản trở lắm, vì ông là người miền Nam, lại là Bí thư cũ của Sài Gòn. Mà Bí thư Sài Gòn có truyền thống làm Thủ tướng. Ông Sang cũng chưa già lắm, cùng tuổi với ông Dũng, sinh năm 1949. Vậy ông Dũng đi đâu? Sau hơn 4 năm làm Thủ tướng, ông Dũng chưa chứng tỏ được khả năng của ông, ngoài 2 việc: ông ký cho một loạt quân đội và công an lên cấp tướng, và con gái ông cưới một Việt kiều vốn xuất thân trong một gia đình quan chức của phe bên kia. Chưa bao giờ quân đội và công an của ta có nhiều cấp tướng đến như thế, khiến cho giảm hẳn ý nghĩa cao quý của các chức vụ cao cấp này. Người ta dễ hiểu ngay là Đảng và Nhà nước ta hiện nay đang mất lòng dân nghiêm trọng, nên cần phải ban phát phần thưởng để có nhiều người bảo vệ Đảng. Nhưng nhìn vào những người được phong tướng hiện nay, phần nhiều là hạng xôi thịt, cơ hội, nịnh bợ. Người chân chính rất ít. Một trong những người chân chính nhất được phong tướng, là ông thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, Cục trưởng Cục C14-Cục Cảnh sát hình sự, thì lập tức đã bị truy tố trong vụ PMU18, với tội danh rất vớ vẩn: lộ bí mật công tác, vì cung cấp thông tin cho nhà báo chống tham nhũng. Một trong những kẻ xôi thịt nhất, cơ hội nhất, là Cao Ngọc Oánh, nguyên thủ trưởng của ông Quắc, thì được phục hồi chức vụ, và còn được phong thêm một cấp, lên trung tướng. Thật là một trò hề trong việc phong tướng hiện nay, mà ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đóng vai chính trong trò hề này.

Những kẻ được phong tướng bừa bãi vừa rồi sẽ bảo vệ Đảng, hay phá Đảng? Thời gian sẽ trả lời. Nhưng lòng dân hiện nay nói chung là rất ngao ngán, nhất là trong giới quân đội và công an. Họ đang chờ một cái gì đó to lớn sẽ xảy ra. Ai cũng nhìn thấy sự giả dối và đểu giả đang tăng lên trong Đảng. Bởi vậy Đảng ta đang cố phát động cuộc vận động học tập gương đạo đức Bác Hồ, để mong phục hồi được nhân phẩm trong Đảng. Thế nhưng Đảng ta lại không cho học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và tự do, nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong Hiến pháp 1946. Bởi vậy cuộc học tập đạo đức Bác Hồ ngay bản thân nó cũng là một sự giả dối.

Con gái ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cưới một đại gia Việt kiều giàu có kếch xù cũng là một đòn nặng đánh vào uy tín của ông. Hiện nay, người Việt ta lấy người nước ngoài, lấy Việt kiều chẳng phải hiếm nữa. Nhưng ở vị trí Thủ tướng, thì đó lại là một vấn đề khác. Cũng giống như người bình thường cúi chào Nhật hoàng thì không sao, nhưng ông Tổng thống Obama cúi chào Nhật hoàng lại là câu chuyện để người ta đánh giá.

Ngoài 2 việc đó ra, người ta không thấy ông Dũng làm được việc gì to lớn, trừ việc ông Dũng luôn biết cách cười tươi trước ông kính truyền hình.

Dĩ nhiên ông Dũng đang tìm mọi cách để ở lại làm Thủ tướng thêm một khóa nữa. Nhưng khả năng thi đấu của ông Dũng so với ông Sang chỉ là 20 trên 80. Bởi vì điều quan trọng nhất là người ta không nhìn thấy một thành tựu nổi bật nào của ông Dũng trong suốt khóa làm Thủ tướng của ông. Những kẻ đang lăng xăng bợ đỡ ông Dũng thì chúng đâu có quan tâm đến việc ông Dũng còn hay mất. Ông Dũng mất chức thì bọn chúng lập tức quay sang bợ đỡ người khác ngay. Nhiều người nói trong lịch sử 4000 năm của dân tộc ta, chưa có thời nào mà có nhiều kẻ bợ đỡ, nịnh nọt, luồn cúi, bẩn thỉu, đểu giả được trọng dụng như dưới chế độ Cộng sản biến chất hiện nay ở nước ta. Bản thân ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ là một thứ lưu manh gặp thời mà thôi.

Vậy thì ai sẽ làm Tổng bí thư vào Đại hội 11? Đang có 2 ứng cử viên nặng ký vươn lên hàng đầu, là ông đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng, và ông Hồ Đức Việt Trưởng Ban tổ chức Trung ương. Cả hai ông này đều có đạo đức trong sáng, và liêm khiết. Nếu tình hình ta và Trung Quốc căng thẳng lên nữa, thì rất có thể ông Thanh sẽ lên làm Tổng bí thư. Quân đội đã từng làm Tổng bí thư, đó là ông Lê Khả Phiêu, và một lần làm Chủ tịch nước, đó là ông Lê Đức Anh. Và nay, nếu sơn hà nguy biến, thì quân đội rất có thể lại giành quyền lãnh đạo đất nước.

Còn nếu tình hình không có chuyển biến xấu hơn, thì rất có thể ông Hồ Đức Việt sẽ làm Tổng bí thư. Ông Việt quê Nghệ An, sinh năm 1947, không trẻ, nhưng cũng không quá già. Ông là một trí thức thực sự, được đào tạo cơ bản, chứ không phải trí thức dởm như nhiều vị lãnh đạo trong Đảng ta hiện nay. Ông học tại Tiệp Khắc trong 9 năm, tốt nghiệp tiến sĩ toán-lý tại Tiệp Khắc năm 1974. Ông Việt đã từng giảng dạy môn toán-cơ trong thời gian dài ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Phó Chủ nhiệm Khoa toán-cơ, và trong 2 năm1981-1982, ông Việt cũng đã đi tu nghiệp tại Pháp. Ông Việt cũng đã được chuẩn bị khá cơ bản để làm chức vụ cao hơn: ông đã làm Bí thư Trung ương Đoàn, rồi làm Bí thư tỉnh Quảng Ninh, Bí thư tỉnh Thái Nguyên, và nay là Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Có thể nói ứng cử viên chức Tổng bí thư của ông Hồ Đức Việt đang nặng ký hơn ông đại tướng Phùng Quang Thanh. Đại hội 11 năm 2011 có đặt ra vấn đề đổi tên Đảng, đổi tên nước không? Đây là vấn đề mà Bộ chính trị đã từng nhiều lần bàn thảo, nhưng chưa dám công khai đưa ra Hội nghị trung ương, cũng như đưa ra Đại hội Đảng. Rất nhiều đảng viên trung kiên đã có đề nghị lên Trung ương Đảng nên lấy lại tên Đảng Lao động Việt Nam, và lấy lại tên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là 2 cái tên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cho Đảng ta, và cho nước ta. Việc trở lại tên cũ thật ra là một đòi hỏi khách quan, và cần thiết, nhất là trong bối cảnh toàn phe xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ, và trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Rất có thể Đại hội 11 chưa đặt ra vấn đề đổi lại tên Đảng và tên nước, nhưng trong suốt 5 năm của khóa Đại hội 11 (2011-2016), người ta dự đoán chắc chắn vấn đề đổi lại tên Đảng và tên nước sẽ được đặt ra. Bởi vì đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, mà lại không sử dụng tên Đảng và tên nước do cụ Hồ đặt, thì có khác gì “chỉ nói mồm học theo Bác, mà không thực làm theo Bác”.

Vấn để cuối cùng và quan trọng nhất, liên quan đến cuộc sống của từng người dân, là sau Đại hội 11, liệu tình hình tự do, dân chủ ở nước ta có được cải thiện thêm không? Liệu dân ta có được quyền tự do báo chí, có báo chí tư nhân, xuất bản tư nhân hoạt động theo luật pháp không, để giải phóng vấn đề tư tưởng cho dân? Liệu dân ta có được quyền bầu cử trực tiếp các cán bộ địa phương không, để bảo đảm người tài có thể tham gia tranh cử vào làm lãnh đạo ở địa phương không? Liệu dân ta có được quyền tự do cư trú thực sự không, để giải phóng thị trường lao động ? Liệu dân ta có được quyền tư hữu ruộng đất thực sự không, để giảm thiểu được tệ cướp đất của dân hiện nay? Đó là các quyền tự do, dân chủ tối thiểu mà dân ta đòi hỏi, mà vẫn không làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, liệu Đại hội 11 có trả lại cho dân ta các quyền đó không?

Chưa biết. Rất có thể phải sau Đại hội 11, dân ta mới đòi được Đảng trả lại các quyền đó cho dân. Nhưng các dấu hiệu tích cực của Đại hội 11, thì chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy. Xu hướng dân chủ, cởi mở, và lành mạnh hóa, đang dần dần thắng thế trong Đảng ta. Những yếu tố lưu manh, cơ hội trong Đảng đang dần dần lộ rõ. Đại hội 11 sẽ cho thấy cái thiện, hay cái ác sẽ thắng thế trong Đảng ta. Nếu cái ác thắng, thì Đại hội 11 sẽ là Đại hội cuối cùng của Đảng ta. Vì nhân dân sẽ không cho phép cái ác tồn tại lâu hơn nữa. Nếu cái thiện thắng, thì Đại hội 11 sẽ mở ra một trang phát triển mới cho đất nước ta. Đó là điều mà phần lớn dân ta mong muốn.

Giáo hội Ba Lan tổ chức Ngày toàn quốc cầu nguyện cho Giáo hội tại Việt Nam

Nhà Thờ Lớn Hà Nội
Theo hãng thông tấn KAI của Giáo hội Công Giáo Ba Lan, ngày thứ năm, 04/02/2010, sẽ là « Ngày toàn quốc Ba Lan cầu nguyện cho Giáo hội tại Việt Nam bị đàn áp». Sáng kiến này phát xuất từ Ủy ban Truyền giáo trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Ba Lan và Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Ba Lan.

Theo hãng thông tấn KAI của Giáo hội Công Giáo Ba Lan, ngày thứ năm, 04/02/2010, sẽ là « Ngày toàn quốc Ba Lan cầu nguyện cho Giáo hội tại Việt Nam bị đàn áp».

Sáng kiến này phát xuất từ Ủy ban Truyền giáo trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Ba Lan và Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Ba Lan.

Cha Thomas, thư ký của Hội Đồng Giám Mục Ba lan nói rằng Giáo hội Ba Lan luôn quan tâm đến những « hoàn cảnh bách hại bi đát trên thế giới », nhưng trường hợp của Giáo hội tại Việt Nam « là hết sức đặc biệt vì những nhân quyền căn bản nhất bị vi phạm trầm trọng ».

Sự kiện chính quyền Việt Nam dùng « bom mìn » để « triệt hạ thánh giá tại Đồng Chiêm đã làm cho người công giáo Ba Lan và tín hữu Chính Thống Giáo sững sờ » và xem đây là một « thách thức lương tâm ».

Giáo hội Ba Lan nhận định là « không thể im lặng mãi trước nỗi đau của người công giáo Việt Nam » và chọn ngày 4 tháng 2 để cầu nguyện hiệp thông với Giáo hội Việt Nam, với Đồng Chiêm, Cồn Dầu, với tổng giám mục Ngô Quang Kiệt và những nơi giáo dân bị đàn áp.

Ngoài ra, trong một bức thư của linh mục Ryszard Bozek, giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Vacxava đề ngày 30 tháng 01, gởi cha Phạm Trung Thành, giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, thì vào ngày mai, 02/02, tất cả các cộng đoàn của Dòng Chúa Cứu Thế Ba Lan sẽ cùng cầu nguyện cho Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, cho những tu sĩ và giáo dân bị hành hung.